Cương Lĩnh Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam
Nhận Định
Trải qua gần 5000 năm dựng nước và giữ nước, nhiều thế hệ
tiền nhân đã hy sinh xương máu để gầy dựng một dải non sông gấm
vóc. Trước những cơn thử thách lớn lao của lịch sử, dân tộc
Việt Nam đã chứng tỏ nhiều đường nét kiêu hùng. Nền văn hiến
của dân tộc cũng trở nên vô cùng phong phú qua sự du nhập và
cộng sinh hài hòa giữa những bản giá trị của nền Đạo Học Đông
Phương, vốn là những nền triết học nhân bản, khoan hòa, bao dung
cùng với nền văn minh tân tiến, dân chủ Tây Phương.
Dưới chế độ Cộng sản tại miền Bắc từ năm 1945 và trên
toàn cõi Việt Nam từ năm 1975, không những nền kinh tế của quốc
gia đã bị suy thoái trầm trọng, mà tệ hại hơn nữa là nền văn
hóa của dân tộc cũng bị hủy hoại tang thương. Trong khi hầu hết thế
giới đã hội nhập vào trào lưu tư tưởng tiến hóa của nhân
loại để tuyên dương cho dân chủ và nhân quyền, thì tại Việt Nam,
đảng Cộng Sản đã cố tình bám víu vào độc tài chuyên chính, làm
chậm đi bước tiến của dân tộc.
Từ bối cảnh lịch sử trên, chúng tôi nhận định rằng:
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hào hùng;
Cá tính quật cường của dân tộc đã thể hiện rõ rệt qua sức
đề kháng mãnh liệt nhất quyết không bao giờ bị đồng hóa;
Lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của dân tộc là sức mạnh
vô biên đã bao lần bẻ gãy xiềng xích nô lệ;
Văn hóa Dân Tộc là căn bản vô cùng thiết yếu để gìn giữ và
phát triển đất nước.
Tin tưởng tuyệt đối vào các nhận định trên và để thể hiện
quyết tâm, chúng tôi son sắt một lòng kết hợp với nhau thành một
tổ chức lấy tên là Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam.
Phần I: Chủ Trương Của Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam:
Tổ Chức PHVN chủ trương tiến hành công cuộc phục hưng đất
nước trên căn bản xây dựng Dân Chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa
Nguyên song hành với nỗ lực phục hưng Văn Hóa Dân Tộc.
A- Xây dựng Dân Chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên:
Để xây dựng nền Dân Chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên,
Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam chủ trương công nhận, tôn trọng và
thực thi nội dung của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (TNQTNQ)
được đại hội đồng Liên Hiệp Quốc công bố ngày 10 tháng 12 năm
1948 cùng với tất cả những văn kiện liên hệ. Tính chất toàn
cầu, bất khả phân ly, tương sinh và liên đới của nhân quyền và
các quyền tự do căn bản trong các văn kiện này cũng đã được
Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tái xác định vào tháng 12 năm 1998.
Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam chủ trương một nền dân chủ thực
sự phải gồm ba yếu tố quyết định sau đây:
1. Yếu Tố Hiến Định bao gồm:
a. Quyền lực của quốc gia và mọi luật pháp của quốc gia không
những đặt trên căn bản mà còn phát xuất từ một Bản Hiến
Pháp được định nghĩa như là một khế ước xã hội căn bản
được long trọng ký kết bởi mọi công dân trong quốc gia.
b. Không một cá nhân, thành phần của xã hội dân sự hoặc cơ
chế của nhà nước cần trung thành với bất cứ một cá nhân hoặc
cơ chế nào. Tuy nhiên tất cả đều phải bảo vệ và trung thành với
hiến pháp.
c. Tất cả mọi luật pháp và tác động của hành pháp không phù
hợp với tinh thần của Hiến Pháp đều bị coi là vi hiến và không
có hiệu lực pháp lý.
d. Để củng cố cho yếu tố hiến định, các nguyên tắc căn bản sau
đây phải được hiến định hóa:
- Nguyên tắc đa nguyên chính trị.
- Nguyên tắc tự do tư hữu.
- Nguyên tắc tự do kinh doanh.
- Nguyên tắc tự do hội họp và lập hội.
- Nguyên tắc tự do tư tưởng.
- Nguyên tắc tự do tôn giáo.
- Nguyên tắc tự do báo chí.
- Nguyên tắc tự do đi lại.
- Nguyên tắc bình đẳng cơ hội cho mọi cá nhân và hữu thể pháp
lý trong xã hội.
- Nguyên tắc pháp trị.
- Nguyên tắc phân quyền.
2. Yếu tố Pháp Trị bao gồm:
a. Mọi cá nhân, mọi thành tố của xã hội dân sự và mọi cơ
cấu của nhà nước hay chính quyền, chỉ là những hữu thể pháp lý
tuyệt đối bình đẳng trước luật pháp.
b. Tư Pháp là một cơ phận tối cao của quốc gia giữ trọng trách
điều hợp và giải quyết mọi xung đột giữa những hữu thể pháp
lý trong quốc gia. Chính vì thế ngành tư pháp phải có một vị trí
hoàn toàn độc lập và đứng ngoài vòng ảnh hưởng của các áp
lực có tính cách phe nhóm, hoặc áp lực đến từ Hành Pháp hoặc
Lập Pháp.
c. Pháp trị có nghĩa là đặt căn bản luật pháp trên những
nguyên tắc chí công vô tư được ghi rõ trong hiến pháp và trong
các văn kiện pháp lý được quốc hội thông qua.
d. Tất cả các thành phần trong xã hội đều có quyền được bào
chữa khi bị truy tố chính thức và phải được xử án một cách
công khai trong một phiên xử công bằng.
3. Yếu tố Đa Nguyên bao gồm:
a. Quyền lực chính trị trong một quốc gia phải luôn luôn phát xuất
từ nhiều tụ điểm khác nhau. Những tụ điểm này không những là
những đảng phái chính trị khác nhau mà ngay cả những đoàn thể có
tính cách tôn giáo, xã hội, từ thiện, kinh tế, sắc tộc, phái
tính, nghề nghiệp, đẳng cấp xã hội hoặc bất cứ một tụ điểm
hợp pháp nào khác.
b. Bằng tác động chấp nhận đa số, một chế độ dân chủ đa
nguyên vẫn phải trân trọng và nuôi dưỡng sự hiện hữu và
đóng góp của thiểu số. Tôn trọng quyền hiện hữu và sự đóng
góp của thiểu số đối lập là một yếu tố căn bản của nền dân
chủ thật sự.
B- Phục Hưng Văn Hóa Dân Tộc:
Công cuộc xây dựng và phát triển thể chế dân chủ hiến định,
pháp trị và đa nguyên chỉ tiến hành hữu hiệu trong bối cảnh của
một nền văn hóa dân tộc chân chính và khai phóng. Trong giai đoạn
hiện tại của lịch sử, với những suy thoái nghiêm trọng về đạo
đức và tinh thần, hiểm họa to lớn nhất của dân tộc Việt Nam
không có tính cách ý thức hệ chính trị mà là hiểm họa mất văn
hóa. Vì vậy, công cuộc phục hưng Văn Hóa Dân Tộc phải được
đẩy mạnh trên căn bản đại đoàn kết dân tộc để xây dựng
lại di sản của của tổ tiên, hầu từ đó, bằng những đường
nét sáng tạo độc đáo của dân tộc, đóng góp hữu hiệu vào
nền văn minh của nhân loạị
1- Đại Đoàn Kết Dân Tộc:
Đại đoàn kết dân tộc vốn là căn bản thiết yếu và niềm tự
hào của dân tộc trong qúa trình dựng nước và giữ nước. Đây
là nỗ lực trường và rộng lớn nhằm qui tụ mọi tiềm lực đấu
tranh của tất cả mọi thành phần dân tộc, không phân biệt xu
hướng chính trị, chủng tộc, tôn giáo, phái tính, tuổi tác hay đẳng
cấp xã hội miễn cùng chấp nhận một lý tưởng chung là mang lại
hạnh phúc đích thực cho dân tộc Việt Nam.
2- Xây Dựng Lại Di Sản Tổ Tiên:
Di sản tổ tiên là những giá trị đã được tinh lọc qua nhiều
thời đại với nhừng nét đặc trưng như:
- Lòng ái quốc thiết tha thúc đẩy mọi người dân Việt sẵn
sàng xả thân bảo vệ và xây dựng đất nước trong mọi hoàn
cảnh, kể từ ngày lập quốc cho đến hôm nay và mãi về sau.
- Tình gia đình nồng thắm nối kết mọi phần tử trong gia đình
thành một tổ ấm yêu thương gắn bó, làm căn bản xây dựng một
xã hội nhân nghĩa.
- Ý thức nhân bản với nhận thức giá trị cao quí và vị trí
đích thực của con người.
- Tinh thần bao dung, độ lượng của dân tộc đã thể hiện rò
ràng trong suốt giòng lịch sử. Mọi sắc tộc sinh sống trên đất
nước Việt Nam đều được đối xư bình đẳng. Các thành phần
yếu kém trong xã hội được ưu tiên giúp đỡ. Mọi chủ trương
trả thù hay hủy diệt con người đều bị lên án.
3- Đóng góp hữu hiệu vào nền Văn Minh của nhân loại:
Văn minh của nhân loại ngày nay thiên về vật chất. Tổ Chức PHVN
chủ trương đóng góp để tạo thế quân bình giữa vật chất và tinh
thần bằng cách phát huy những giá trị tinh thần từ phạm vi cá
nhân, gia đình, đến xã hội và nhân loại. Những giá trị tư
tưởng trong các lãnh vực văn chương, triết học cũng như tôn giáo
cần được đề cao, làm căn bản cho một sự giao cảm hài hoà
giữa các dân tộc. Mâu thuẫn giữa các quốc gia cần giải quyết
trong tinh thần hoà binh.
Phần II: Phương Châm Hành Động
Là một chính đảng trong dòng sinh mệnh của dân tộc Việt Nam,
phương châm hành động của Tổ Chức PHVN là:
1. Đấu tranh trên căn bản tự lực, không lệ thuộc vào bất cứ
một thế lực ngoại lai nào. Sự liên kết đều phải dựa trên căn
bản phối hợp lưỡng lợi và tôn trọng lẫn nhau. Sinh mạng, lãnh
thổ và tài sản của nhân dân Việt Nam phải được tuyệt đối tôn
trọng và bảo vệ.
2. Đoàn kết và phối hợp hành động với tất cả các phong
trào, lực lượng, tổ chức người Việt trong hay ngoài nước có
cùng chủ trương.
3. Đoàn kết và thiết lập quan hệ với tất cả các quốc gia, dân
tộc, tổ chức trên thế giới trên căn bản bình đẳng, tôn trọng
lẫn nhau.
Phần III: Địa Bàn Hoạt Động
Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam hoạt động trên toàn thế giới trong
đó Việt Nam là địa bàn chính.
Phần IV: Cơ Cấu Tổ Chức
Cơ cấu Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam được quy định trong Nội Quy.
Phần V: Phương Thức Sinh Hoạt
1. Mật hay công khai:
Trên bình diện chiến lược, Tổ Chức PHVN là một chính đảng sinh
hoạt công khai trong dòng lịch sử của dân tộc. Tuy nhiên trên bình
diện chiến thuật, khi nhu cầu đòi hỏi, Tổ Chức có thể đổi hình
thái sinh hoạt từ công khai sang mật hay ngược lại bằng biểu quyết
của hai phần ba (2/3) đại biểu Đại Hội Đồng của Tổ Chức.
2. Chặt chẽ
Cơ cấu tổ chức từ trung ương đến địa phương phải được tổ
chức chặt chẽ, khoa học, để bảo đảm sự bền vững của Tổ
Chức, khả năng lãnh đạo và thi hành công tác trong công cuộc
phục hưng đất nước.
3. Có sự tham gia của mọi tầng lớp quần chúng:
Tất cả mọi người không phân biệt quốc tịch và nguồn gốc đều
có thể trở thành thành viên của Tổ Chức nếu tin tưởng tuyệt
đối vào bản Cương Lĩnh của Tổ Chức PHVN.
4. Sinh hoạt dân chủ và kỷ luật:
Tất cả sinh hoạt của Tổ Chức PHVN đều theo nguyên tắc dân chủ.
Mọi ý kiến đều được khuyến khích trình bày. Các quyết định
đều được bàn thảo và biểu quyết một cách dân chủ. Mọi quyết
định khi đã được thảo luận và biểu quyết đều được tất cả
các thành viên tôn trọng và bảo vệ như quyết định của chính mình.
Ý kiên riêng của mình chỉ có thể được nhắc nhở đến trong tinh
thần và có tính cách hoàn toàn xây dựng mà thôi. Không bao giờ
vì ý kiến riêng của mình mà xao lãng việc thi hành nghiêm chỉnh
đường lối và quyết định đã được đa số biểu quyết.
Kỷ luật và tinh thần dân chủ là sức mạnh của Tổ Chức. Kỷ
luật của Tổ Chức là kỷ luật tự giác.
5. Nghĩa vụ của thành viên:
Nghĩa vụ tối thượng của thành viên là nghĩa vụ của một công
dân đối với tổ quốc trong tinh thần tự nguyện hy sinh và bất vụ
lợi, thúc đẩy bởi ý chí bất khuất và hào hùng của dân tộc
Việt Nam.
Thành viên Tổ Chức PHVN quyết tâm khắc phục gian khổ, kiên trì
đấu tranh để xóa bỏ mọi hình thức độc tài tại Việt Nam. Thành
viên của Tổ Chức PHVN sẵn sàng hy sinh đời mình cho lý tưởng
phục hưng Việt Nam.
Thành viên của Tổ Chức PHVN coi nhau như anh chị em ruột thịt.
Thành viên của Tổ Chức PHVN phải luôn luôn trao dồi đạo đức
và khả năng để bảo vệ và phát huy giá trị của Tổ Chức.
6. Quyền lợi của thành viên:
Phần thưởng tinh thần vô giá dành cho thành viên là niềm kiêu
hãnh thể hiện hoài bão khôi phục và xây dựng Tổ Quốc.
Thành viên bỏ mình trong khi thi hành nhiệm vụ, được tôn vinh
liệt sĩ. Thân nhân trực hệ sẽ được Tổ Chức bao bọc trong khả
năng.
Phần VI: Nội Quy Áp Dụng
Nội Quy của Tổ Chức ấn định mọi chi tiết áp dụng bản Cương
Lĩnh này.
Phần VII: Tu Chính và Sửa Đổi:
Cương Lĩnh này có thể được tu chính và sửa đổi do biểu quyết
chấp thuận của hai phần ba (2/3) đại biểu Đại Hội Đồng của Tổ
Chức.
HOẠT ĐỘNG
PHÁT THANH
NHẬN ĐỊNH
TỔ CHỨC
CƯƠNG LĨNH
LIÊN LẠC |